KỶ NIỆM 92 NĂM NGÀY SINH TRIẾT GIA LỮ HÀNH TRẦN ĐỨC THẢO

By Hoang Anh

                                                              Bài mang về từ WWW.huc.edu.vn

                                                                                   Phạm Thành Hưng

                                                                                 Đại học Quốc gia Hà Nội

Năm 1987 khi tôi còn đang lúi húi với luận án phó tiến sĩ ở Đại học Tổng hợp Charles - Praha một hôm có một sinh viên ta mới sang nhập học hớt hải chạy vào phòng tôi hỏi: "Anh có biết Việt Nam mình có ông Trân nào làm Triết học không? Trong nước em học Toán sang đây lại được phân công học Triết chẳng có chút vốn liếng nào cả. Ông Trân là ai?" Tôi lắc đầu xin chịu.

Mấy ngày sau chàng trai lại đến với mẩu giấy nhỏ trong tay nói rõ: "GS. Vôratrếch thầy dạy môn Lịch sử triết học bảo em: Mày sang chúng tao học triết làm gì? Sao không ở nhà học ông Tran. Tại Mỹ tại Italia tại Nga tại Pháp Tây Ban Nha Nhật Bản... đều có có sách dịch của ông ấy cả. Cần đọc tiếng nước nào tao cho mượn. Họ tên đầy đủ của ông ấy là thế này đây".

Triết gia Trần Đức Thảo (26/9/1917- 24/ 4/1993)

Thì ra vậy. Người Việt Nam nổi tiếng một cách âm thầm đó chính là GS. Trần Đức Thảo. Tôi bảo chàng sinh viên: "Đây là một trí thức quá say nghề nên bị tai nạn nghề nghiệp ấy mà. Làm triết làm sử làm văn làm...ở mình một thời tội lắm. Như chơi với dao hai lưỡi. Làm khoa học xã hội là cần có gan chịu đòn. Cậu cần chuẩn bị tinh thần trước đi. Có một dạo cái tên cụ Thảo ở trong nước nhiều người yếu bóng vía mỗi lần nhắc đến là cứ phải hạ giọng thì thào. Càng thì thào sợ nhau cụ ấy càng khổ. Nhưng bây giờ đất mình mọi người theo Đảng đang đổi mới chắc chẳng phải thì thào nữa. Ta biết tự tin và tự hào về nhau rồi".

Chàng sinh viên nghe tôi nói xong bậm môi hạ quyết tâm: "Em sẽ tranh thủ học thêm tiếng Pháp buổi tối để đọc được cụ Trần".

Mẩu giấy ghi tên người Việt Nam nọ đã đem đến cho tôi nguồn động viên không nhỏ. Sự bế tắc và trì trệ trong nền kinh tế nước ta sau chiến tranh đã khiến nhiều cán bộ khoa học và công nhân Việt Nam coi việc đi nước ngoài khi đó như một lối thoát một phương sách hữu hiệu duy nhất cải thiện đời sống cho gia đình. Tôi cũng nằm trong số đó. Nhưng khi bắt đầu yên vị ăn học lao động trên đất bạn rồi những người Việt Nam có chút lòng tự trọng không khỏi ngậm ngùi mặc cảm. Sống trên đất khách quê người đi đâu cũng nghe người ta ca ngợi Việt Nam đánh Mỹ giỏi. Nhưng nghe ca ngợi nhiều ta cũng sinh nghi. Biết đâu sau lời ca ấy là nụ cười thầm. Phải chăng thế giới cho rằng dân tộc mình không biết làm gì giỏi hơn cầm súng?... Vậy thì hãy nhìn đây! (ấm ức quá lần đó tôi đã cầm mẩu giấy kêu lên một mình như vậy)... hãy nhìn cái tên người Việt Nam này người ngay từ Chiến tranh thế giới thứ II đã từng cả cười tranh luận với nhà triết học lừng danh J.P. Xactơrơ (Jean Paul Sartre 1905-1980). "Kẻ thù buộc chúng ta cầm súng". Người Việt Nam chúng ta phải chịu thiệt thòi do những biến thiên đỏng đảnh của lịch sử mà thôi. Còn nếu được sống yên hàn chúng ta vẫn dư sức để làm Triết học.

Vì là người làm công việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương sau khi về nước tôi không theo dõi sát những đóng góp của GS. Trần Đức Thảo thời kỳ đổi mới. Tôi chỉ loáng thoáng nghe rằng câu chuyện lâm nạn của ông thời được gọi là "chống nhân văn - giai phẩm" cũng đã được dẹp sang bên. Bản thân ông cũng không coi đó làm trọng. Chuyện cũ cứ cho thành chuyện cổ đi. Niềm say mê nghề nghiệp cùng bản tính trung thực - cái tố chất tự nhiên của một nhà khoa học chân chính đã cuốn ông về phía trước. Thành ủy Hà Nội và Thành ủy TP. HCM cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho ông yên tâm theo đuổi những công trình triết học lâu nay dang dở. Ông đã đi nhiều nước dự hội nghị quốc tế trao đổi học thuật và năm 1992 sang Pháp nghiên cứu kết hợp chữa bệnh.

Thế rồi một ngày nọ vào cuối tháng tư năm 1993 tôi nghe tin ông mất. Lo toan sinh kế tôi cũng không bỏ thời gian tìm hiểu những phút cuối cùng của ông. Nghe tin buồn đó tôi chỉ biết thở dài chợt nhớ tới câu thơ của Thu Bồn viết về Hồ Chủ tịch năm nào: "...thế là dừng một cánh chim đại bàng". Gần đây khi nhận công việc Tổng biên tập tại Nhà xuất bản ĐHQGHN phải trực tiếp "xử lý" bản thảo hai công trình triết học mới được tổ chức dịch ra tiếng Việt của ông tôi mới có dịp tìm và hiểu nhiều hơn về thân thế cuộc đời ông. Để cuốn sách "Sự hình thành con người" của ông ra mắt dày dặn hơn hấp dẫn độc giả hơn tôi quyết định kiểm tra và cho in thêm phần phụ trương - Tiểu sử tự thuật Trần Đức Thảo. Vì có một số câu dịch không thoát ý đáng nghi tôi tìm gặp người vợ cũ của Giáo sư bà Nguyễn Thị Nhất. Thật không ngờ đọc xong bản dịch bà nổi giận. Bà đã từng học Đại học Sorbone là Việt kiều từ Pháp về nước tham gia kháng chiến và là một nhà tâm lý học. Từ thời chiến tranh tôi đã tập trấn tĩnh kiềm chế phản xạ không giật mình khi nghe tiếng nổ vậy mà lần này tôi đã giật mình hoảng hốt trước cơn giận dữ của người đàn bà 80 tuổi. Vì sao? Vì đó là cơn giận dữ của học thuật là sự thịnh nộ của người phụ nữ Bình Định sau 40 năm chia tay vẫn trân trọng ấp ủ tình yêu đầu với nhà triết học Bắc Hà. Bà quát: "Bậy! Dịch bậy! Ông ấy không sang lánh nạn ở Bỉ mà là bà Hut-sơ (Husserl). Dịch thế tai hại lắm nhất là khi đó người Pháp nghi ông ấy làm gián điệp cho Đức". Tôi cố tìm cách trấn tĩnh bà. Tôi biết mình không phải là người chịu lỗi mà ngược lại đang có cơ hội khám phá những bí ẩn về một người đàn ông Việt Nam hiếm hoi. Còn ai hơn bà - nhân chứng tin cậy duy nhất còn lại và gần như giữ bản quyền về sự thật cuộc sống Giáo sư Thảo? Sự nhẫn nại và cố gắng thuyết phục của tôi đã được bù đắp. Bà nguôi giận. Bằng giọng Nam Bộ pha âm Bắc và âm Pháp ngữ bà thong thả kể cho chúng tôi nghe chuyện một thời tuổi trẻ bên người chồng kính yêu đầu tiên của mình. Theo lời bà những trang tiểu sử mà tôi được đọc tự nhiên cứ sáng lên sống động như tôi đang xem một cuốn phim quay chậm.

GS. Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917 tại huyện Từ Sơn Bắc Ninh. Chưa học hết năm thứ nhất trường ĐH Luật Hà Nội năm 1936 ông đã được nhận học bổng sang Paris để thi vào trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm - cái nôi của các danh nhân và các nhà khoa học nổi tiếng châu Âu khi đó. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ II vượt qua mọi gian nan thiếu thốn ông vẫn xuất sắc giành tấm bằng cử nhân triết học rồi thạc sĩ triết học với đề tài về hiện tượng học của Hut-sơ. Năm 1943 đến 1944 ông tiếp tục theo đuổi các ý đồ khoa học của mình và viết luận án tiến sĩ. Trong quá trình nghiên cứu ông đã đến với hiện tượng học tinh thần của Hêghen và tiếp cận với lập trường triết học mácxít. Nhưng bầu không khí cách mạng nóng hổi trong nước đã kéo ông khỏi những suy tư trừu tượng để trở về với mảnh đất thực tại. Ông sớm trở thành Uỷ viên của Tổng liên đoàn người Việt tại Pháp chuyên trách các vấn đề chính trị. Ông thực sự là người phát ngôn cho khát vọng độc lập và tự do dân tộc của 25.000 kiều dân Việt Nam trên đất Pháp.Trong một cuộc họp báo trước câu hỏi của một phóng viên: "Những người Đông Dương sẽ làm gì khi quân đội viễn chinh đổ bộ?" ông đã thản nhiên trả lời: "Phải nổ súng". Mấy ngày sau mẩu đối thoại ngắn ngủi này xuất hiện trên tờ Le Monde. Ông lập tức bị bắt rồi bị giam cầm trong nhà tù Prison de la Senté với tội danh "xâm phạm an ninh nước Pháp". Trong thời gian ông bị giam nhiều tờ báo tiến bộ đã lên tiếng đòi trả tự do cho ông. Tổng biên tập tạp chí Les Temps Modernes đã viết một bản kiến nghị gửi tới tay mấy nghìn trí thức Pháp tạo sức ép dư luận để bảo vệ tính mạng cho nhà triết học trẻ tuổi này. Tuy nhiên ba tháng trong tù không hoàn toàn là quãng thời gian bất hạnh. Mất tự do thể xác nhưng ông lại tìm được tự do cho tư duy: ông viết được mấy bài báo và một công trình nổi tiếng sau này của ông đã hình thành đó là công trình "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng".

Trước đó không lâu ông đã làm không khí học thuật Pháp và châu Âu trở nên sôi động bởi cuộc tranh luận năm ngày với nhà triết học hiện sinh lừng danh J. P. Xactơrơ. Sau năm ngày tranh luận Xactơrơ đã "rút lại các thắc mắc" đồng ý với những quan điểm bảo vệ triết học Mác của Trần Đức Thảo và yêu cầu không công bố các bản tốc ký tường thuật quá trình tranh luận. Trần Đức Thảo đã kết thúc cuộc tranh luận trong tư thế của người thắng cuộc. Ngay sau đó trong thời gian ông bị giam trong tù môn đồ của Xactơrơ đã tuyên truyền xuyên tạc khiến dư luận hiểu rằng Trần Đức Thảo đã phá hỏng cuộc tranh luận. Ông đệ đơn kiện buộc các môn đồ của Xactơrơ phải từ bỏ ý đồ lừa lọc. Vụ kiện của ông có thể gây phiền hà lớn cho Xactơrơ trong những năm tiếp theo nhưng nghe theo lời khuyên của chính phủ kháng chiến Việt Nam ông bỏ kiện. Về phương diện học thuật quan điểm của họ có thể trái ngược nhau. Trong thực tiễn chính trị Xactơrơ là người phản đối chính sách thực dân ở Việt Nam cống hiến tích cực cho phong trào hòa bình. Sau này ông đã lớn tiếng lên án Mỹ trong pháp đình của Bectơrăng Ruxen. Năm 1964 ông còn từ chối giải Nobel Văn học. Suy cho cùng hai ông đã có tiếng nói chung.

Ngay từ năm 1946 trong một chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Cộng hòa Pháp nhà triết học trẻ tuổi đã xin gặp Người bày tỏ nguyện vọng được về xây dựng đất nước. Nhưng mãi tới năm 1951 nguyện vọng của ông mới được đáp ứng. Ông từ bỏ các giảng đường các thính phòng triết học đang hứa hẹn cả một sự nghiệp danh giá dùng tiền nhuận bút cuốn sách "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng" để mua vé máy bay bí mật về nước theo một lộ trình khá vòng vèo: từ Paris sang Luân Đôn - Praha - Matxcơva - Bắc Kinh về nước lên Việt Bắc - thủ đô kháng chiến. Tại đó ông nhận nhiệm vụ nghiên cứu giáo dục dịch các tài liệu cho đồng chí Trường Chinh trong Văn phòng Tổng Bí thư tham gia cải cách ruộng đất.

Hòa bình ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa Chủ nhiệm Khoa Lịch sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Triết học của ông không còn nặng tính tư biện mà "hạ cánh" gắn liền với những vấn đề then chốt của thực tiễn cách mạng. Các bài báo nổi tiếng của ông như "Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ" "Nội dung xã hội và những hình thức của tự do" cùng một số bài khác công bố trong hai năm 1955-1956 thực chất chỉ là những suy nghĩ tìm tòi rất tự nhiên chân thành của một học giả quen viết bằng tiếng Pháp và quen khái quát trừu tượng hóa những vấn đề vốn rất rối rắm trong thực tế. Bối cảnh chính trị phức tạp thời kỳ "chiến tranh lạnh" sự ấu trĩ và lối nghĩ cơ hội của một số kẻ xấu bụng đã vô tình đẩy ông ra khỏi giảng đường. Nhưng đúng với tư chất của một hiền nhân Đông phương ông vẫn ung dung tự tại chấp nhận hình thức "cải tạo tư tưởng" một thời gian rồi lại say sưa với công việc mới - công việc biên dịch tại NXB Sự thật. Ông tiếp tục nghiên cứu dịch và hiệu đính lại các tác phẩm kinh điển của Mác Ănghen viết bài in sách ở nước ngoài và cộng tác thường xuyên với một số tạp chí Pháp. Năm 1973 NXB Xã hội của Pháp xuất bản cho ông công trình "Khảo về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức". Cuốn sách lập tức được dịch và xuất bản ở nhiều nước kể cả ở Mỹ. Năm 1988 ông cho xuất bản cuốn "Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người". Nói như GS. Phan Ngọc "Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa duy vật sau khi trèo lên cái đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy tâm thời đại này là hiện tượng luận của Hut-sơ rồi lật ngược nó lại. Từ duy tâm sang duy vật chính là sự phát triển biện chứng của chủ nghĩa duy tâm ông chuyển sang chủ nghĩa Mác do tình cảm yêu nước". Tên ông trở thành một mục từ quan trọng trong một số từ điển triết học ở châu Âu. Cuối những năm năm mươi do quan hệ gia đình căng thẳng và điều kiện sống quá khó khăn vợ chồng ông phải chia tay nhau. Ông trở thành người đàn ông độc thân nổi tiếng thêm bởi sự đãng trí hồn nhiên và sự thiếu thốn cơ hàn trong sinh hoạt. Dãy nhà B khu tập thể Kim Liên vốn đã nổi tiếng vì là "xóm giáo sư" nay lại nổi tiếng hơn vì có thêm GS. Trần Đức Thảo trụ trì. Trong dịp tang lễ Giáo sư nhà văn Phùng Quán chứng kiến một chuyện thật bi - hài. Nhà văn kể:

"Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc cây xà cừ mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước vẫn còn nguyên chỗ đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô:

- Con cháu nhà tôi nó mới sắm cái tivi màu nội địa. Tối hôm kia bắt dây rợ xong bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu ông Thảo là nhà triết học nổi tiếng thế giới làm đến sáu bảy chức chức nào cũng dài dài là chắc là toàn chức to. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Cả Tây cả Ta đều làm lễ truy điệu toàn cán bộ to đến dự... Trong khu nhà B6 đàng kia cũng có một ông tên Thảo nhưng lôi thôi lếch thếch quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch quần ống cao ống thấp chân dép cao su đứt quai đầu mũ lá sùm sụp cưỡi cái xe đạp "pôdô con vịt" mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc. Mặt cứ vác lên trời đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người... Một buổi trưa trời nắng chang chang ông ghé vào quán tôi uống cốc chè xanh tôi hỏi: "Ông đi đâu về mà nom vất vả thế?". Ông nói: "Tôi lên chợ Hàng Bè mua củi đun". Tôi hỏi: Thế củi đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái poocbaga mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn sợi dây buộc. Củi nả rơi đâu hết dọc đường chẳng còn lấy một que... Nghĩ cũng tội già ngần nấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn không vợ không con... Đấy cũng Thảo cả đấy mà Thảo một đằng thì chết danh chết giá còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai...

Bà cụ chép miệng thương cảm:

- Một vài năm nay không thấy ông ấy đạp xe qua đây dễ chết rồi cũng nên...

Tôi uống cạn chén nước cười góp chuyện:

- Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu đám ma trên ti vi.

Bà cụ bĩu môi:

- Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!"

Nếu bà cụ quán nước tin lời nhà văn Phùng Quán hẳn cụ sẽ thương cảm hơn cái ông Thảo láng giềng sống thế nào chết thế nào ở bên Tây.

Vốn là người chỉ coi kết quả của những suy tư triết học là niềm vui duy nhất trong cuộc sống ông gần như mất cảm giác trước các nhu cầu vật chất. Tại Paris những năm tháng cuối đời ông lảng tránh mọi sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp đồng hương. Ông sống và viết trong một căn phòng nhỏ tầng năm do Sứ quán Việt Nam bố trí. Vốn bị bệnh gan mãn tính ăn uống đạm bạc thất thường cộng với mùa đông băng giá sức khỏe ông như ngọn đèn leo lét dần. Ông trút hơi thở cuối cùng khi bản thảo công trình "Logic của cái hiện tại sống động" (La logique du présent vivant) còn ngổn ngang dang dở. Lọ tro di hài ông được Đại sứ quán ta cử người đưa về nước cùng va li chứa tư trang bản thảo tài liệu. Vì không còn người ruột thịt lo đỡ lọ tro phải gửi "trọ" trả tiền 5 nghìn đồng một ngày trong gầm cầu thang Nhà tang lễ Phùng Hưng. Ông phải "nghỉ ngơi" ở đó chờ các thủ tục quyết định về tiêu chuẩn "nằm Mai Dịch" hay "nằm Văn Điển".

Năm 2000 ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học. Trường ĐHKHXH&NV đã nhận số tiền thưởng đó từ người thân của ông cộng với số tiền quyên góp để lập Quỹ học bổng Triết học Trần Đức Thảo. Nhờ công dịch thuật của dịch giả Đinh Chân và bà Nguyễn Thị Nhất năm 2004 hai công trình "Hiện tượng học và CNDVBC""Sự hình thành con người" từ Nhà xuất bản ĐHQGHN đã ra mắt độc giả tiếng Việt. Nhằm vào một ngày rằm chúng tôi mời cựu phu nhân của Giáo sư ra viếng mộ và kính trình hai cuốn sách.

Hôm đó là một ngày nắng hè oi ả. Tôi cùng mấy biên tập viên đặt hương hoa và hai cuốn sách còn thơm mùi mực in lên mộ rồi đọc một bài văn tế ngắn. Tôi cố tình không thắp nhiều hương vì nghĩa trang khu A - Văn Điển hôm ấy sực mùi bê tông bị mặt trời hun nóng. Vậy thì khói lửa mà làm gì nhất là khi dưới ấy là lọ tro. Ngày hỏa táng ông đã chịu nóng lắm rồi. Có thể dành hương lửa ấy cho ông vào mùa đông được chăng!

Tôi đọc văn tế nhưng không có ý nghĩ hỗn xược là lời mình có thể vọng tới hương hồn người dưới mộ. Thật ra là tôi đọc cho những người đang đứng bên tôi nghe và cho chính bản thân mình. Còn ông ông mất ở phía trời Tây. Xa xăm lắm! GS. Trần Văn Giàu cho rằng ở Việt Nam bản thân mình và các đồng nghiệp khác cũng chỉ là những người nghiên cứu và giảng dạy triết học người duy nhất được coi là nhà triết học chỉ có Trần Đức Thảo mà thôi. Nhà văn Nguyễn Đình Thi thì gọi ông là "người lữ hành vất vả". Quả vậy ông sống rất lận đận như một khách lữ hành. Sống cũng rất xa mà chết cũng rất xa. Điều đáng nói nhất theo tôi ông là nhà triết học mácxít kiên trinh và chân chất nhất. Từ khi rời Pháp về nước lên Việt Bắc ông đã sống và làm việc bằng khối óc và trái tim của một người cộng sản không thẻ đảng. Có điều ông là người hay đi trước và đi xa trong tư tưởng. Đi gần thì yên hàn còn một mình đi xa thì dễ lạc. Nhưng dường như các danh nhân đều mỗi người một phận. Trời sinh ra ông để mà đi xa để mà làm khách lữ hành những người mà thiếu họ tương lai của một cộng đồng thường được dự báo và định liệu rất muộn  

More...

TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ!

By Hoang Anh

   
   Tôi nhiều khi tự cười mình. Ôi khô như ruộng hạn chờ mưa. Khô khốc. Khô như.. như gì chẳng biết ví nữa... Tôi tự nhủ chắc lấy gậy đập vào mắt mình chắc cũng không thể khóc.
   Vậy mà tôi đã khóc. Những giọt nước mắt tự nhiên chảy dài chảy mãi như trẻ con trước Hội đồng bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của một em sinh viên. Mà lạ thật mình lại đang là UVHD... sao không thể ngừng..
   Mắt tôi đã cay xè khi phút đầu tiên Bác phụ huynh ấy bước vào phòng bảo vệ
. Sẽ chẳng ai nghĩ rằng niềm vui cạn lòng - ai mà không vui khi bao ngày trồng cây đến ngày hái quả quả ngọt lành từ những đứa con trao tặng mẹ cha bằng thành tích học tập phấn đấu của mình - nhưng niềm vui ấy lớn hơn bao giờ hết vì người mẹ luôn phải giành giật từng giờ phút sự sống của mình chờ đợi đợi chờ theo từng bước chân nhỏ của con.
   Tôi đã định viết một cái gì đó ngay từ ngày hôm ấy vậy mà không sao viết nổi.
   Một phần tuổi thanh xuân Bác cống hiến cho đất nước. Niềm vui chưa trọn thì biết bao bất hạnh ập xuống.. bản thân luôn phải chống trọi với bệnh tật.
   Công bố điểm bảo vệ: 9 5. Người mẹ ấy òa khóc những tiếng khóc của niềm vui của sự chờ đợi khắc khoải bao ngày tháng...
   Quả ngọt lành Bác vun trồng từ mồ hôi cả những giọt máu đào. Con ơi! là tiếng gọi đầu tiên từ tấm lòng người mẹ. Giờ phút ấy sao linh thiêng cảm động đến nghẹn ngào.
   Tôi đã khóc. Tự nhiên như bản năng của người mẹ!
   Xin chia sẻ niềm vui vô bờ bến với em sinh viên tôi rất yêu quý và gia đình của em.

More...

VẪN LÀ BÁT RAU CÀ VÀ CÂU HÁT VƯỜN XƯA

By Hoang Anh

                               Tặng Người yêu thơ!

     Em hiểu nhiều...

   Tấm lòng chân thực Người yêu thơ
   Một mảnh trăng suốt bao năm tròn - khuyết
   Cứ lặng lẽ đêm với bao nhiêu cách biệt
   Bừng tỉnh lại rồi... tươi mới những dòng yêu

   Có phải Bạn không?
                                 Những tia nắng giáng chiều
   Em ngỡ ngàng trước mình nét thăng hoa hạnh phúc
   Anh là Anh với bao điều có thực
   Lại không phải là mình trong vị ngọt thơ trao

   Gặp đây rồi có thỏa ước ao
   Đợi chờ kiếm tìm giữa bốn bề hư vô... có là hạnh phúc
   Giản đơn thôi... hãy là đời thực
   Vẫn là bát rau cà và câu hát vườn xưa



More...

MÙA XÀ CỪ THAY LÁ

By Hoang Anh

                                                        (Mang về từ Dân trí) 

    Xà cừ thay lá vào đầu hạ. Khi đó những chùm phượng nở sớm đã đỏ rực như đốm lửa. Tiếng ve cũng bắt đầu rả rích. Trời vừa hửng nắng oi nồng mồ hôi rịn trên trán và lưng áo. Chớp mắt nắng đã trốn mất tăm. Mây đen ùn kéo tới xì xầm.  

      Rồi mưa mưa như trút. Gió cuốn ào ào cây cối nghiêng ngả. Chưa đầy một giờ đồng hồ sau mưa dứt hẳn trời lại hửng sáng như chưa hề có giọt nước nào.

 

      Những cơn mưa hè vội vã dáng mẹ tất bật vội vàng. Cơn mưa đi qua để lại dưới lớp đất lún phún cỏ gà hay trên nền xi măng một lớp lá xà cừ vàng ươm. Lá nhỏ tựa như bàn tay em bé. Lá to giống tờ tiền 500 đồng thủa đó đủ để mua một que kem mút mệt nghỉ. 

      Thường những chiếc lá vàng yếu ớt phải lìa cành. Nhưng khi trời nổi gió những chiếc lá xanh veo như bầu trời vào hạ cũng phải sớm rời xa xà cừ mẹ thân vạm vỡ. Lá vàng dày khi gặp nắng sẽ cong lên như cái bánh đa nướng được quạt đều tay trên chậu than củi. Lá xanh mỏng hơn gặp nắng thì uốn lên nhưng không cong bằng lá vàng. Lúc đó mẹ con mình đã có chất đốt cho bữa cơm chiều muộn.

      Có lần mẹ dặn ở nhà phơi lá nếu mưa thì bốc lá vào bao tải chất trong bếp nhưng con mải chơi nhảy dây trong nhà bạn cơn mưa ào xuống nhanh hơn những sải chân nhỏ bé của con. Về nhà khi cả sân lá khô ròn đã đẫm nước con rất sợ bị mẹ mắng. Con bốc lá vào chiếc thúng rách thay vì cho vào bao tải gác xó bếp như lời mẹ dặn con hì hục trải lá ướt quanh bếp củi với suy nghĩ: "Hong cho lá chóng khô".

      Thế rồi trong phút bất cẩn lửa từ bếp bén sang đám lá cháy rụi cả bao tải dứa và chiếc thúng tre con hoảng hốt gào khóc. May sao lúc đó mấy bác hàng xóm ở nhà nghe tiếng con vội vã sang dập lửa hộ. Một lát sau mẹ chạy về thấy con đầu tóc toàn mùi khói thì nhòa nước mắt. Tội của con hôm đó không còn bị mẹ truy cứu nữa.

      Hà Nội mùa này mưa nắng bất chợt. Ngồi trên xe buýt đưa mắt qua tấm cửa xe mờ nước mưa con thấy lá xà cừ vo thành từng đám dạt sang hai bên đường. Xà cừ ướt nước nằm chơ vơ trên vỉa hè cho người đi bộ. Bây giờ chẳng còn ai đi quét lá nấu cơm mẹ nhỉ. Mỗi mùa lá qua con lại nhớ mẹ khôn nguôi nhớ cả tuổi thơ con vất vả nhưng luôn có tình yêu của mẹ.

                                                                                             Trang Nhung

More...

26B THÂN YÊU !

By Hoang Anh

   Viết cái gì cho thay đổi không khí ngày thứ bẩy mấy hôm nay nhiều việc quá cái tinh thần AQ phát động mãi... vẫn ở nguyên vạch xuất phát.
   Viết về tháng năm vậy tháng của thời học trò hoa phượng mùa thi... chia tay post lại một bài viết cách đây 2 năm cho một lớp sinh viên nhân ngày ra trường các Bạn cùng đọc cho vui.
 

   Từ Học viện Báo chí - Tuyên truyền các em sẽ bay xa
   Tôi trở lại giảng đường quen thuộc
   Cây bàng già thân thương báo trước
   Phượng cháy lên rồi giữa bao cuộc chia tay

   Mới ngày nào thôi chính dưới mái hiên này
   Khắp bốn phương trời gặp nhau quen lạ
   Ghé sát mái đầu chan hòa ánh mắt
   Chung ngôn từ mà không hiểu bạn nói chi

   27 tấm lòng 27 nẻo đường đến với trường thi
   Hội tụ mái nhà 26B theo con đường Bác dạy
   Là Thầy... làm trò để ngày mai mơ ước ấy
   Sáng mọi miền tổ quốc thân yêu

   Tôi còn nhớ sao quên có một buổi chiều
   Sau rất nhiều năm làm nghề đứng trên bục giảng
   Nhận niềm vinh quang nếm từng vị mặn
   Vẫn lo lắng đến ngỡ ngàng khi vào lớp dạy các em

   Ngồi sát bàn giáo viên 2 thiếu nữ thân quen
   Từ miền Tây về Hà Nội Thủ đô học chữ
   Bạn gióng đài phát thanh khi nói tới Bác Hồ
   Bạn nói giọng Cần Thơ nhẹ nhàng xao xuyến

   Và rất nhiều gương mặt dịu hiền mà tôi yêu mến
   Lan Hiền Hương Mai mỗi vẻ mỗi người
   Có một tên mà nam nữ chia đôi
   Ai cũng nhận tên mình đẹp như dòng Lam quê mẹ
   Lại nhận mình Hiền Hòa giữa hai ngả triền sông

   Chàng bảnh trai tên Hòa lại mải miết tiến công
   Thuận lòng trời... lòng ta chưa thỏa
   Người Nghĩa hiệp thấy đất trời nghiêng ngả
   Đấu tranh hết mình vì bạn vì ta

   Còn nhớ không em ở ký túc xá xa nhà
   Mỗi tối cùng Kiều ca vài câu vọng cổ
   Giọng bắc tiếng nam ngôn từ phương ngữ
   Bạn nói mặt trời tôi hiểu mặt trăng

   Là Thầy Cô rồi mà đi học vẫn rất thăng (hoa)   
   Vẫn khoái đến ngất trời khi giành giải cao trong thi đấu
   Vẫn hóa thân ngọt ngào vào những vai "đầu gấu"
   Bán vé dạo ven đường... lại giữ chức Bí thơ

   Lớp trưởng tài hoa làm nhiều bạn ngẩn ngơ
   Tiếc rắng sau anh là... hậu phương vững mạnh
   Đưa lớp vượt gập ghềnh khó khăn trên đường đi tới
   Là áo dài dịu dàng duyên dáng đất Tràng An

   Hình như có một bông hoa vương trong ánh mắt Hoàn
   Say đắm khôn nguôi trên con đường về Hải Dương  quê vải
   Đi thực tập nhưng cứ mong thời gian dài mãi
   Để mình được bên mình ta vẫn trong ta

   Người nhiều TRIỂN VỌNG sẽ bay rất xa
   Từ khung trời 26B mang đầy kỷ niệm
   Sau mỗi thành công hãy dành tình cảm
   Một chút thôi sự bình tặng bạn bè

   Mãi bên nhau mãi một nhịp đò
   Sông rộng đường dài nơi đây Bình yên mỗi khi nghĩ đến
   Sáu hà Hồng Huyền Ly ngọt ngào yêu mến
   Sang Trang hồng rạng rỡ đón Hạnh phúc ngày mai

   Còn trong tôi sâu lắng vô cùng những mơ ước phôi thai
   Những ánh mắt học trò mai đây sẽ là đồng nghiệp
   Tôi thầm mong các em sẽ thành công trên con đường bước tiếp
   Tôi là một viên gạch cuộc đời xây bóng mát thành công


   

More...

QUÊ HƯƠNG CHỜ XANH MÃI TUỎI THƠ

By Hoang Anh

Nếu có thể thay lời nói
Tôi lại gặp trong mơ mùi ngọt lịm ổi đào
Nếu có thể đổi trường âm thanh huyễn hoặc
Gặt mùa vàng trĩu hạt nắng buông thơ

Cuộc sống vần xoay... ai học hết chữ ngờ
Qua nửa đời Bạn lại sang trang.. trang kỳ ảo
Tôi tự dối mình trải tấm lòng thơm thảo
Tìm về nét dịu dàng thân thuộc vẫn quen

Đổi sao Bạn ơi quá trễ rồi
Không thể tự nhốt mình trong vòng tròn đặc quoánh
Con đường vắng không người đi không màu nắng
Quay về quê hương chờ xanh mãi mãi tuổi thơ

More...

CHO TUỔI THƠ TÔI !

By Hoang Anh

Bạn đã một lần đánh mất nơi tôi
Niềm tin tuổi thơ được dựng xây từ những điều thật ngây ngô khờ dại
Thời ấy
Trẻ con mà
có hiểu biết nhiều đâu

Tôi mang hoài niệm tuổi thơ trong củ ấu nương dâu
miệt mài sớm khuya vắt nước mắt thành nụ cười tới những bến bờ vui khó nhọc
Khi sao chiếu tròn vành nơi cửa sổ mỗi khuya trên bài học
Tôi lại thấy ngỡ ngàng nụ cười hiền tỏa ấm ban mai

Cánh đồng xanh bờ đê ngát dài
Tôi thả ước mơ mình theo dòng sông thủa nhỏ
Gầu nước giếng khơi trái tao xanh ngái đến lạ lùng bên ngõ
Vẫn đậm đà hương vị tao khang

Chỉ một múi bưởi thôi dúi vội bên thềm
Cứ mãi ấm nồng giữa cái cách xa 40 ki lômet
Bạn sao cười vui... giữa cái lạnh mùa đông buốt giá
Giữa cảnh 2 nhà xa lạ: Bạn - Tôi
Bạn biết tìm chỗ đâu một chỗ để ngồi
Trong cái nghèo nàn bờ rạ tranh tre vách đất

Bạn vẫn tìm tôi san niềm vui mới xuân về
Dù hiểu rằng chỉ có khoai và sắn
Có vạt áo mỏng manh che khí trời đang lạnh
Có một ngọn lửa hồng đồng cảm... giấc mơ tôi

Dù cách xa nơi ấy mấy phương trời
Tôi vẫn tin vẫn nhớ về khoai lùi cơm đùm cháo đỗ xanh và rất nhiều...rất nhiều làm sao tả hết
Khi khó khăn về tuổi thơ ký ức nghèo làm tôi hết mệt
Lại thanh thản lên đường bước tiếp tới tương lai

Tình bạn trong tôi qua bao tháng năm dài
Nguyên vẹn một màu xanh cây cối vườn nhà Bạn ạ

More...

VỢ MUA NHẪN VÀNG BỒ MUA NHẪN KIM CƯƠNG

By Hoang Anh

               Đọc trên Dân trí bài này mang về để các bạn cùng đọc cho vui nhé!      

Anh bật cười vì sở thích của cô tình nhân đáng yêu. Cô ấy đúng là người sành điệu đồ trang sức do cô chọn vừa thời thượng lại cũng rất hợp mốt chả bù cho vợ anh.  

Sau bữa cơm tối điện thoại bất chợt réo anh liếc qua số điện thoại gọi đến rồi làm như vẻ không có chuyện gì lẳng lặng ra phòng khách nghe máy. Giọng người tình của anh nũng nịu trong điện thoại: "Mai là sinh nhật em rồi cưng anh tặng cho em một chiếc nhẫn kim cương được không?". Anh nhìn xung quanh thì thào từng tiếng: "Chẳng phải anh mới tặng em một chiếc nhẫn hồng ngọc hay sao?".

 

Giọng cô tình nhân lại thỏ thẻ mật ngọt: "Anh không biết à? Kim cương mới là biểu tượng cho tình yêu vĩnh cửu. Anh có yêu em không thế?". Anh thở dài nói thật khẽ: "Được rồi được rồi mai anh sẽ mua cho em thế nhé cưng!".

 

Gác điện thoại rồi anh khẽ lắc đầu nhưng cũng không khỏi bật cười vì sở thích của cô tình nhân bé nhỏ đáng yêu. Cô ấy đúng là người sành điệu đồ trang sức cô chọn vừa thời thượng lại cũng rất hợp mốt mỗi lần đeo lên trông cô càng thêm xinh đẹp lộng lẫy. Rồi anh lại ngán ngẩm khi nghĩ đến người vợ có phần quê mùa thô kệch của mình.

 

Thời đại nào rồi mà vợ anh vẫn chỉ thích mua vàng ta. Mỗi lần anh ngỏ ý mua đồ trang sức tặng vợ cô ấy lúc nào cũng chỉ một mực muốn mua nhẫn hoặc dây chuyền vàng ta vừa to vừa thô. Vậy mà dù anh nói thế nào vợ anh từ trước đến nay cũng một mực không thay đổi.

 

Tối hôm sau anh tổ chức sinh nhật cho cô tình nhân trẻ trong một khách sạn sang trọng và trang trọng tặng cô chiếc nhẫn kim cương tuyệt đẹp đắt tiền. Nhìn nụ cười mãn nguyện và ánh mắt lúng liếng đưa tình của nàng lại ngắm chiếc nhẫn lấp lánh đeo lên ngón tay thon dài trắng muốt anh cảm thấy hạnh phúc và không khỏi tự hào vì có một người tình xinh đẹp như cô ở bên. Cả buổi hôm đó anh ngồi gắp thức ăn cho cô và nhìn cô say mê ăn hết món này đến món khác như một đứa trẻ. Chiếc nhẫn trên tay cô tình nhân bé bỏng lấp lánh nhảy múa sinh động theo từng nhịp đũa...

 

Vài hôm sau là đến sinh nhật của vợ anh lại dẫn cô ấy đến một cửa hàng trang sức đắt tiền để mua một món quà dành cho vợ như mọi năm. Nào ngờ vợ anh vẫn chọn sợi dây chuyền vàng ta vừa to vừa thô kệch giống như một sợi xích hơn là để dành cho người đeo. Anh thất vọng nhìn người vợ quê mùa vốn dĩ không có một chút thẩm mỹ về cái đẹp.

 

Tối hôm đó anh cũng dẫn vợ đi ăn ngay tại khách sạn sang trọng hôm trước. Vợ anh chọn toàn những món ăn anh thích và không ngừng gắp thức ăn vào bát giục anh ăn. Nhưng cứ nhìn chiếc dây chuyền thô kệch trên cổ vợ anh không thể nào cảm thấy vui vẻ lên được lại nhớ đến cô tình nhân xinh đẹp và sành điệu của mình trong lòng anh càng thêm chán nản với người vợ hiện tại.

 

Ngay hôm sau khi gặp cô tình nhân anh đem chuyện vợ mua dây chuyền vàng ta kể cho cô ấy. Cô tình nhân cười phá lên chế giễu. Cô giục anh mau chóng li dị vợ và nói vợ anh như thế không thể xứng đáng đứng bên cạnh ông chủ tầm cỡ như anh. Chỉ có cô mới hiểu được anh mà thôi...

 

Thật chẳng ngờ thời gian sau đó giá cả thị trường biến đổi công ty của anh không tiêu thụ được hàng dẫn đến nợ nần chồng chất thậm chí còn không đủ tiền để trả lương cho nhân viên. Phút chốc anh thành kẻ kiệt quệ trắng tay. Trong lúc khốn quẫn nhất anh đến tìm cô tình nhân mong tìm lại chút bình yên thì không ngờ cô ta hay tin anh sắp phá sản phũ phàng quay lưng bỏ anh để chạy theo một đại gia khác. Anh sững sờ đau đớn.

 

Khi công ty đang đứng trước bờ vực phá sản thì đột ngột một hôm vợ đưa cho anh một chiếc túi đựng đầy tiền mặt. Anh kinh ngạc nhìn vợ không hiểu cô ấy lấy đâu ra nhiều tiền như vậy thì vợ anh bình thản trả lời: "Em đem bán tất cả đồ trang sức mà từ trước đến nay anh mua cho em được khoản tiền này anh cầm lấy để lo nợ nần trước mắt. Sở dĩ em thường xuyên mua nhẫn hay dây chuyền vàng ta là vì nó luôn giữ được giá trị vốn có của nó. Kim cương hột xoàn tuy đẹp nhưng khi cần không thể đổi được nhiều tiền để dùng. Em muốn mua vàng cũng coi như là một khoản tiết kiệm cho anh khi cần thiết".

 

Những lời vợ nói như sét đánh ngang tai khiến anh xúc động trào nước mắt. Trong lòng anh hối hận muôn phần... Rất nhanh sau khi trả được nợ nần từ số tiền của vợ anh dần vực dậy công ty của mình và lấy lại được mọi thứ. Sau lần đó anh tỉnh ngộ ra nhiều điều và tự thề với bản thân sẽ thay đổi không bao giờ phản bội vợ nữa.

 

Vào sinh nhật năm nay của vợ anh trang trọng tặng cô một chiếc nhẫn thật lớn khắc dòng chữ: "Vợ quý như vàng" để luôn nhắc nhở anh rằng: Chỉ có vợ mới chính là người mà anh trân trọng nhất!

More...

HOAI NIỆM

By Hoang Anh

   Sao hôm nay mình lại nhớ tuổi thơ lạ kỳ đến vây? Có lẽ khi gặp khó khăn thì chỗ dựa vững chắc nhất của mình là những ký ức về tuổi thơ.
   Ngày ấy mẹ thường nâng niu từng đồng bạc thật cũ thật lẻ rất nhiều tờ nhưng lại hữu hạn về giá trị đưa cho mình và bao giờ cũng vậy chỉ 2 từ thôi 2 từ ấy đi theo mình suốt cuộc đời hôm nay đây lai về ngọt lặn: NÀY CON!
   Ngày xưa ấy sao khó khăn sao vất vả gian chuân mà có bao giờ mình khóc đâu nhỉ? Mình vẫn hồn nhiên bên mẹ bên những rổ khoai dây những đọt sắn trái mùa. Ngày xưa ấy!!!!!!

More...

PHÍA TRƯỚC LÀ TRỜI XANH!

By Hoang Anh

   
   Ngày nhỏ cô thường chân trần chạy trên cánh đồng làng mỗi khi hoàng hôn đuổi bắt nhau từ phía chân trời. Những ý nghĩ thật ngây ngô: Trời thật gần thật thấp bao giờ mình đi đến phía chân trời ấy nhỉ?
   Mẹ cười hiền. Con gái ngố của mẹ ơi đường chân trời chỉ có trong sự tưởng tượng của con người.Con hãy đọc lại những kiến thức về thiên văn học đi nhé.
   Cô thì có biết gì về thiên văn học đâu chứ. Cô chỉ thấy tâm hồn lặng đi thật thư thái khi ngắm phía trời xa  thấy gần quá đỗi thật gần khi ông Trời khuất sau những ngọn núi Thiên Thai quê mẹ và tự nhủ: Phía trước luôn là trời xanh!
   Phía trước luôn là trời xanh ấy là kỷ niệm tuổi thơ không thể phai nhạt đồng thời là TUYÊN NGÔN THEO KIỂU AQ trong hành trình cuộc sống của cô mỗi khi gặp khó khăn thất bại.
   Nhiều khi cô vẫn tự huyễn hoặc mình một cách thật ngô nghê. Cái ngô nghê của cô gái đi suốt chiều dài Thủ Đô mà chân vẫn lấm bùn. Ôi có vấn đề gì đâu PHÍA TRƯỚC LUÔN LÀ TRỜI XANH mà.
   Và hôm nay cô mang cái tinh thần ấy thổi vào tâm hồn những người Bạn của mình thì thầm: HÃY THÀNH CÔNG TRÊN CON ĐƯỜNG MÌNH CHỌN TRÊN CON ĐƯỜNG MÀ NGƯỜI KHÁC KHÔNG ĐI PHÍA TRƯỚC LUÔN LÀ TRỜI XANH Bạn a!

More...